Số điện thoại: 0989097828

Trao đổi kinh nghiệm

Giải mã các Microbiome

23/11/2015

Tiến sĩ Y khoa Georg K. Gerber (MD, PhD, MPH) - Trợ lý Giáo sư về bệnh lý học tại Trường Y Harvard (HMS), đồng Giám đốc Trung tâm Lâm sàng và Giải mã Di truyền (Center for Clinical and Translational Metagenomics) tại Brigham và Bệnh viện Phụ nữ (BWH), ông cũng là nhà nghiên cứu bệnh học tại BWH Trung tâm Chẩn đoán Phân tử tiên tiến. Các mối quan tâm của ông liên quan đến việc xây dựng các mô hình điện toán mới và các hệ thống thử nghiệm thông lượng cao để hiểu được vai trò của vi sinh vật đối với bệnh nhân và áp dụng các kết quả nghiên cứu để phát triển các xét nghiệm chẩn đoán mới và can thiệp điều trị giúp cho việc chăm sóc bệnh nhân được tốt hơn. Ông đã thành lập một số công ty tập trung vào việc phát triển và áp dụng các công nghệ đồ họa 3D để tạo ra tính năng và các phim IMAX.

Quản lý các quy trình phân tích

17/11/2015

Thạc sĩ Hóa học Freya Freestone là một nhà khoa học tại Chiesi của Anh kể từ khi tốt nghiệp đại học Oxford năm 2009, đồng thời đảm nhận vai trò quản trị hệ thống phần mềm Waters năm 2011. Freya có nhiều kinh nghiệm như một nhà cải cách Waters' Empower 3, NuGenesis 8 SDMS và các hệ thống tin học ELN. Để phát triển hơn nữa phòng thử nghiệm (PTN) vi tính hóa, cô đã có sự khai thác kỳ diệu với các biểu mẫu.

Xu hướng trong việc sử dụng sắc ký

21/10/2015

Phó giáo sư , Tiến sĩ dược Serge Cremes làm việc Trung tâm Y tế Đại học Columbia, ông đồng thời là nhà hóa học lâm sàng tại bệnh viện Prebysterian New York. Ông là giám đốc Phòng thử nghiệm (PTN) Dược và Chất độc học tại Trung tâm Y tế Đại học Columbia và là Giám đốc PTN Trọng điểm Chỉ thị sinh học (Biomarkers Core Laboratory) của Viện nghiên cứu Lâm sàng và Tịnh tiến Irving – cái nôi của Giải thưởng Khoa học Lâm sàng và Tịnh tiến (CTSA), cơ sở khối phổ lớn nhất tại Đại học Columbia. PTN của ông chú trọng vào metabolomics mục tiêu và đo lường thuốc. Lĩnh vực chuyên môn của Tiến sĩ Cremers là phân tích hóa - sinh học, dược lý tịnh tiến và lâm sàng, giám sát thuốc điều trị cũng như hóa học lâm sàng các bệnh chuyển hóa xương. Ông tiến hành nghiên cứu trong tất cả các lĩnh vực này và đã công bố hơn 90 công trình.

“Xanh hóa” (going green) trong lĩnh vực chuẩn bị mẫu

15/10/2015

Karyn M. Usher là một Nhà hóa học phân tích tại Khoa Khoa học Tự nhiên thuộc Đại học bang Metropolitan tại Saint Paul, Minnesota (Hoa Kỳ). Tại đây, nghiên cứu của bà tập trung vào việc chuẩn bị mẫu để xác định các chất phân tích trong các ma trận phức tạp bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC).

Các công cụ chỉnh sửa Gen (Kỳ 2)

25/09/2015

Tiến sĩ Greg Gocal là Phó Chủ tịch cấp cao về Nghiên cứu và Phát triển tại Cibus. Với một nền tảng sâu rộng về sinh học phân tử, ông có vai trò quan trọng trong việc phát triển công nghệ RTDS với các hệ thống thực vật và vi sinh. Hiện tại, ông đang điều hành nhóm công nghệ và là thành viên của nhóm lãnh đạo cấp cao có nhiệm vụ khám phá các cơ hội thương mại để cung ứng các ứng dụng tiềm năng của RTDS. Trước khi gia nhập Cibus, Tiến sĩ Gocal đã quản lý một nhóm sinh học phân tử của bộ phận Sản phẩm Công nghiệp và Thực vật tại ValiGen. Ông lấy được bằng Cử nhân khoa học về hóa sinh/thực vật học và bằng Thạc sĩ khoa học về sinh lý học thực vật của Đại học Calgary. Ông nhận bằng tiến sĩ về sinh học phân tử thực vật tại Đại học Quốc gia Úc và đã làm việc tại CSIRO Plant Industry ở Canberra, Úc.

Khắc phục sự cố hệ thống sắc ký

18/09/2015

Nhóm sinh học cấu trúc mô tả đặc điểm của nhiều loại protein rối loạn bản chất (IDPs), rất quan trọng trong các bệnh thoái hoá thần kinh và sinh học tế bào gốc, sử dụng các kỹ thuật hoá sinh/ lý sinh tiêu chuẩn và hiện đại như là NMR và phổ huỳnh quang đơn phân tử. Bà Josephine Ferreon là một Phó Giáo sư tại Khoa Dược, Đại học Y Baylor ở Houston, Texas có nhiều năm kinh nghiệm về khắc phục sự cố đối với hệ thống sắc ký.

Làm thế nào để phát triển các phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) có giá trị

19/08/2015

Michael Rummel đã giữ vị trí giám đốc điều hành tại InSource Diagnostics, một phòng thí nghiệm (PTN) độc lập tập trung vào giám sát và kiểm tra tuân thủ dùng thuốc trong nhiều năm. Sau khi tốt nghiệp Đại học Wisconsin Madison năm 2005, Michael đã theo đuổi sự nghiệp trong các ngành khoa học phân tích và lâm sàng. Ông có chuyên môn trong phát triển xét nghiệm hóa phân tích, đặc biệt với phương pháp sắc ký lỏng/khối phổ, tối ưu hóa khảo nghiệm, tối ưu hóa và phát triển chuẩn bị mẫu. Ở vị trí hiện tại của mình tại InSource Diagnostics, ông liên quan mật thiết tới quy trình lâm sàng, các yêu cầu quy định và thực thi kiểm soát chất lượng/đảm bảo chất lượng nghiêm ngặt đối với thử nghiệm lâm sàng LC/MS.

Thử nghiệm sử dụng Giấy quỳ để phát hiện E. Coli

18/08/2015

Giấy quỳ, từ lâu đã được biết đến là một phương pháp đơn giản để thử tính acid và theo các nhà nghiên cứu thuộc trường đại học McMaster tại Ontario, giấy quỳ có thể được sử dụng như một phương pháp nhanh và tiết kiệm để phát hiện E.coli.

Các công cụ chỉnh sửa Gen ( Kỳ 1)

13/08/2015

Tiến sĩ Dieter C. Gruenert là một Giáo sư tai mũi họng – phẫu thuật đầu và cổ tại Đại học California, San Francisco (USCF) và nhi khoa tại Đại học Vermont (UVM). Ông có bằng Tiến sĩ Lý sinh Đại học California, Berkeley và là một nghiên cứu sinh bậc sau Tiến sĩ về ung thư tại Viện Nghiên cứu Ung thư thực nghiệm Thụy Sĩ (L’Institut Suisse de Recherche Expérimentale sur le Cancer) ở Lausanne. Ông cũng từng là đồng Giám đốc của Trung tâm Nòng cốt Trị liệu Gen tại UCSF, Giám đốc Bộ phận Di truyền học Phân tử người tại UVM và đứng đầu Chương trình Nghiên cứu Tế bào gốc tại Trung tâm Y tế Thái Bình Dương California. Nghiên cứu của ông tập trung vào phát triển chỉnh sửa gen và liệu pháp tế bào cho các bệnh di truyền và ung thư.

Phòng thử nghiệm thực hiện ISO 11133:2014

20/07/2015

Vào tháng 3/2014, Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế (ISO) đã giới thiệu bộ sửa đổi ISO 11133:2014, mà hiện tại là một tiêu chuẩn bắt buộc đối với tất cả các phòng thử nghiệm (PTN) được công nhận thực hiện phân tích vi sinh vật trong thực phẩm, thức ăn chăn nuôi và nước sử dụng môi trường nuôi cấy. Tiêu chuẩn mới này thay thế cho tiêu chuẩn ISO/TS 11133-1:2009 (Chuẩn bị môi trường nuôi cấy), ISO/TS 11133-2:2003 (Thử nghiệm hiệu năng của môi trường nuôi cấy, đối với vi sinh vật trong thực phẩm và thức ăn chăn nuôi) và tiêu chuẩn ISO 9998:1991 (Yêu cầu đối với môi trường nuôi cấy vi sinh cho thử nghiệm nước).